Quảng cáo
Hỗ trợ trực tuyến
Bác sỹ : Nguyễn Văn Dũng
Trưởng phòng
Phòng Điều trị bệnh nhân tâm thần nam và Điều trị nghiện chất.
Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia - Bệnh viện bạch mai.


Y!M chat : drdungbm
Khách thăm

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday360
mod_vvisit_counterYesterday467
mod_vvisit_counterThis week3090
mod_vvisit_counterLast week4656
mod_vvisit_counterThis month14174
mod_vvisit_counterLast month17837
mod_vvisit_counterAll days533097
NHẬN XÉT ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN HOANG TƯỞNG, ẢO GIÁC Ở BỆNH NHÂN SA SÚT TRÍ TUỆ CÓ BIỂU HIỆN RỐI LOẠN TRẦM CẢM Print E-mail
Written by Nguyễn Văn Dũng   


TÓM TẮT: Ở Việt Nam cho tới nay đã có một số công trình nghiên cứu về điều trị các rối loạn hoang tưởng, ảo giác ở bệnh nhân sa sút trí tuệ có biểu hiện rối loạn trầm cảm nhưng vẫn chưa được quan tâm tìm hiểu đầy đủ. Mục tiêu: Đánh giá việc sử dụng thuốc, hiệu quả điều trị và nhận xét về tác dụng không mong muốn trong điều trị rối loạn hoang tưởng, ảo giác ở bệnh nhân sa sút trí tuệ có biểu hiện rối loạn trầm cảm. Phương pháp: Mô tả, tiến cứu có sử dung các trắc nghiệm tâm lý hỗ trợ. Kết quả: Trong 45 bệnh nhân sa sút trí tuệ có biểu hiện rối loạn hoang tưởng, ảo giác có biểu hiện rối loạn trầm cảm. Các thuốc được sử dụng gồm an thần kinh, chống trầm cảm, chống co giật, giải lo âu, chất ức chế men cholinesterase. Điều trị  triệu chứng loạn thần và rối loạn hành vi thường sử dụng an thần kinh mới bởi vì chúng có tác dụng trên các triệu chứng loạn thần và ít tác dụng không mong muốn(chiếm tỷ lệ 91,1%) BN được điều trị bằng ATK liều lượng thấp (Haloperidol 5mg/ngày, Olanpine 5-10mg/ngày, Risperdal 2mg/ngày Thuốc chống trầm cảm mới được ưu tiên lựa chọn vì ít tác dụng kháng cholinlesgic do đó tránh ảnh hưởng đến nhận thức của bệnh nhân. Kết luận : Hoang tưởng, ảo giác là những triệu chứng xuất hiện sau suy giảm nhận thức. Lựa chọn thuốc điều trị suy giảm nhận thức là lựa chọn đầu tiên mà các tác giả khuyên dùng ở BN SSTT mức độ nhẹ vừa có hoang tưởng và ảo giác. Khi BN có biểu hiện rối loạn hoang tưởng và ảo giác cần phối hợp với ATK liều thấp và ngắn ngày. Đặc biệt khi BN có rối loạn trầm cảm cần phải dùng thuốc chống trầm cảm, liều lượng  thấp nhất có tác dụng, không cần thiết kéo dài tránh tác dụng phụ

1.Đặt vấn đề

Sa sút trí tuệ ở người già thường gặp với nhiều biểu hiện như rối loạn trí nhớ, vong ngôn, vong tri, vong hành, rối loạn cảm xúc, rối loạn loạn  thần…[51]. Trong đó hoang tưởng và ảo giác là những triệu chứng phổ biến được phát hiện ở BN SSTT. Hoang tưởng và ảo giác thường là lý do làm cho bệnh nhân phải nhập viện và bệnh cảnh trở nên phức tạp nghiêm trọng, tăng khó khăn cho người chăm sóc [38]. Hoang tưởng, ảo giác không chỉ dẫn đến các rối loạn cảm xúc, hành vi mà còn liên quan với sự tiến triển nhanh hơn của hội chứng SSTT. Trên cơ sở các bệnh nhân có các biểu hiện sa xút tâm thần, có sự đan xen của các triệu chứng rối loạn trầm cảm. Rối loạn trầm cảm là rối loạn khá phổ biến. Theo WHO, 3-5 % dân số thế giới có các biểu hiện trầm cảm ở 1 giai đoạn nào đó trong cuộc đời. Đặc biệt trầm cảm chiếm tỷ lệ tới 10.7% trong cộng đồng người cao tuổi. Rối loạn trầm cảm ở người già thường do sự kết hợp của nhiều yếu tố sinh học- tâm lý- xã hội nên bệnh cảnh thường phức tạp với nhiều biểu hiện cơ thể. Các biểu hiện loạn thần, rối loạn hành vi cũng có những đặc trưng riêng, làm cho bệnh thêm trầm trọng khó nhận biết, khó điều trị. [40],[46],[60]. Nghiên cứu hoang tưởng, ảo giác ở BN SSTT có các biểu hiện rối loạn trầm cảm có thể làm tăng hiểu biết về bản chất quá trình bệnh lý thực tổn não, từ đó dẫn đến nhận biết và điều trị tốt hơn cho các triệu chứng loạn thần rối loạn trầm cảm ở BN có biểu hiện  SSTT [76]. Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm hoang tưởng ảo giác trên bệnh nhân sa sút trí tuệ người cao tuổi vào điều trị tại Viện Sức Khoẻ Tâm thần, Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là:

  1. 1. Nhận xét điều trị hoang tưởng, ảo giác trên bệnh nhân sa sút trí tuệ. 
  2. 2. Đáng giá hiệu quả điều trị trầm cảm ở các bệnh nhân này

II.  Đối tượng và phương pháp nghiên cứu :

Chúng tôi thu nhận các bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ chung theo ICD 10 theo mục F00, F01, F02, F03 và có hoang tưởng hoặc ảo giác, hoặc cả hoang tưởng và ảo giác trong giai đoạn nghiên cứu, điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Tâm thần Trung Ương I, trong 2 năm (2009-2010). Về lâm sàng chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, tiến cứu. Để hỗ trợ lâm sàng chúng tôi sử dụng trắc nghiệm kiểm tra trạng thái tâm thần tối thiểu của Folstein (Mini Mental State Examination/ MMSE), thang đánh giá sa sút trí tuệ trên lâm sàng (CDR Chinical Dementia Rating), thang đánh giá triệu trứng dương tính của Andreasen (SAPS), thang đánh giá trầm cảm người già ( GDS), thang đánh giá các rối loạn lo âu ( ZUND). Số liệu được phân tính bằng chương trình Epi- info 6.04.

III. Kết quả nghiên cứu

Trong 2 năm chúng tôi theo dõi được 45 bệnh nhân sa sút trí tuệ ở lứa tuổi từ 60 trở lên, nữ giới chiếm 60%, nam giới chiếm 40%, tỷ lệ nữ/ nam = 1,5/1. Nhóm tuổi sstt gặp nhiều nhất từ 71 – 80 tuổi chiếm tỷ lệ 42,2% trong số BN nghiên cứu, kế đến lứa tuổi dưới 60 gặp 17,8%, ít nhất là lứa tuổi trên 80 (chiếm tỷ lệ 13,3%). Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 70 ± 8,9; tuổi thấp nhất là 53, tuổi cao nhất là 87. Điểm MMSE trung bình 12,9 ± 5,3. Tỷ lệ sa sút trí tuệ do bệnh Alzheimer cao (66,7%), SSTT do mạch máu chiếm tỷ lệ 8,9%, SSTT không biệt định chiếm tỷ lệ 15,6%, thấp nhất SSTT do bệnh Parkinson (2,2%). Nghiên cứu hoang tưởng, ảo giác ở bệnh nhân SSTT, SSTT do AD có hoang tưởng và ảo giác nhiều nhất, sau đó đến SSTT do mạch máu và các thể khác SSTT. Trầm cảm được phát hiện nhiều ở nhóm tuổi 60-69 ( 32.1%). Giai đoạn trầm cảm thấy ở 71.4% các bệnh nhân. Trầm cảm tái diễn có ở 23.2% và trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực chỉ có ở 5.4%. Các biểu hiện loạn thần có ở 28.6% các bệnh nhân nghiên cứu.

Tuổi

n= 45

%

60-70 tuổi

20

44.4

71-80 tuổi

19

42,2

>80 tuổi

6

13,3

Tuổi trung bình

70 ± 8,9

Điểm MMSE trung bình

12,9 ± 5,3

Bảng 1. Tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Mức độ SSTT

N = 45

Nữ = 27

Nam = 18

P

n

%

n

%

n

%

Nhẹ

6

13,3

1

16,7

5

83,3

<0,05

Trung bình

19

42,2

11

57,9

8

42,1

Nặng

20

44,4

15

75

5

25

Bảng 2. Mức độ sa sút trí tuệ.

 

 

 

 

Biểu đồ 1 : Sự xuất hiện của các rối loạn cảm xúc

Rối loạn cảm xúc

n =45

%

Trầm cảm

23

51,1

Lo âu

15

33,3

Bàng quan

8

17,8

Cơn kêu khóc ban đêm

14

31,1

Tính dễ bị kích thích

33

73,3

Bảng 3. Rối loạn cảm xúc ở BN SSTT có hoang tưởng và ảo giác

Thuốc ĐT

Tên thuốc

Số BN

 

Liều lượng (mg)

Thời gian

sử dụng

Tác dụng phụ

TB

ATK cũ (n=4)

(8,9%)

Haloperidol

4

5

10

7,5 ± 5.1

1 ngoại tháp

ATK  mới

(n=41)

(91,9%)

Olanpin

20

5

10

21,5 ± 15,9

1 ngoại tháp

Risperdal

13

2

4

15,3 ± 7,1

1 bồn chồn

Solian

4

200

400

13,6 ± 5,0

0

Seroquel

4

50

200

16,5 ± 12,8

0

Thuốc ĐTNT

(n=35)

(77,8%)

Aricepts

20

5

10

19,3 ± 10,9

0

Reminyl

15

4

8

19 ± 22,3

0

Thuốc chỉnh khí sắc (71,1%)

32

200

1000

18,6 ± 11,6

0

Thuốc chống trầm cảm (51,1%)

23

30

30

21 ± 10,9

0

Thuốc giải lo âu (44,4%)

20

5

10

22,2 ± 7,6

0

Thuốc dinh dưỡng thần kinh

38

 

 

 

 

Bảng 4. Nhận xét về thuốc điều trị trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Thuốc chống trầm cảm

n

%

Liều cao nhất (mg)

Liều trung bình

Thời gian duy trì (ngày)

TCAs

n=3

Amitriptylin

3

13,0

100

50

18

SSRIs

n = 8

Zoloft

6

26,1

100

50

32

Prozac

2

8,7

40

20

28

Khác

N = 12

Remeron

12

52,2

45

30

35

Bảng 5. Điều trị trầm cảm

Triệu chứng loạn thần

Tổng số BN

Giảm hoàn toàn

Giảm 1 phần

Không giảm

n

%

n

%

n

%

Hoang tưởng

42

23

54,8

16

38

3

7,2

Ảo giác

29

16

55

11

38

2

7

HC Paranoid

25

20

80

4

16

1

4

HC Capgras

9

2

22

6

67

1

11

Bảng 6. Diễn biến của các triệu chứng loạn thần

IV. Bàn luận

Bảng 3.1 cho thấy nhóm tuổi gặp nhiều nhất từ 71 – 80 tuổi chiếm tỷ lệ 42,2% trong số BN nghiên cứu, kế đến lứa tuổi 60 gặp 17,8%, ít nhất là lứa tuổi trên 80 (chiếm tỷ lệ 13,3%). Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 70 ± 8,9; tuổi thấp nhất là 53, tuổi cao nhất là 87. Điểm MMSE trung bình 12,9 ± 5,3. Ting-Wen Cheng (2009), nghiên cứu triệu chứng loạn thần ở BN SSTT nội trú và ngoại trú. Tuổi trung bình của nhóm BN cộng đồng là 74,8± 9, điểm MMSE trung bình 12,9 ± 9. Tuổi trung bình của nhóm BN nội trú là 81,9± 6,9, điểm MMSE trung bình 10,3 ± 6,9. Điều dễ nhận thấy là nhóm bệnh nhân nội trú tuổi trung bình cao hơn và mức độ SSTT nặng hơn nhóm BN ở cộng đồng [10]. Một số nghiên cứu cho thấy tuổi càng cao nguy cơ SSTT càng nhiều và nhiều bệnh kèm theo. Tuy nhiên nhóm tuổi trên 80 trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỷ lệ thấp vì quần thể người già ở Việt nam nhóm tuổi này thấp, hoặc vì tuổi cao nên các gia đình tự chăm sóc ở nhà không đưa BN đến bệnh viện. Nữ giới chiếm 60%, nam giới chiếm 40%, tỷ lệ nữ/ nam = 1,5/1. 

Bảng 3.2 cho thấy nhóm sa sút trí tuệ mức độ nặng và trung bình chiếm tỷ lệ 86,6%, mức độ nhẹ chiếm tỷ lệ 13,4%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,05. Nguyễn Kim Việt (2003) nghiên cứu chẩn đoán bệnh AD thấy SSTT mức độ nhẹ chiếm tỷ lệ 14,2%, SSTT  mức độ vừa chiếm tỷ lệ 68,5%. Jiska Cohen (1998), hoang tưởng và ảo giác xuất hiện nhiều hơn ở SSTT mức độ vừa và nặng so với SSTT mức độ nhẹ [6]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với các nghiên cứu khác. Bệnh nhân SSTT mức độ nhẹ chiếm tỷ lệ thấp đến bệnh viện cho thấy việc nhận biết sớm và can thiệp sớm các biểu hiện SSTT và các dấu hiệu loạn thần ở nhóm BN này còn gặp nhiều khó khăn.

Bảng 3.3 trầm cảm gặp ở 23/45 người (chiếm tỷ lệ 51,1%),  lo âu gặp ở 15/45 người (chiếm tỷ lệ 33,3%), thờ ơ bàng quan gặp ở 17,8% trong nhóm BN nghiên cứu. Barbara C nghiên cứu ở bệnh nhân SSTT có hoang tưởng, ảo giác thấy lo âu gặp 28%, trầm cảm 53% [5]. Nghiên cứu của Yuri L ở nhóm BN SSTT có hoang tưởng, ảo giác nhận thấy tỷ lệ trầm cảm thay đổi từ 30 – 87% [8]. Romina (2006) nghiên cứu hoang tưởng trên BN AD, tác giả sử dụng phép phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa hoang tưởng và trầm cảm. BN SSTT có hoang tưởng thì trầm cảm nặng hơn những BN SSTT không hoang tưởng [9].

Trầm cảm được đặc trưng bởi các triệu chứng cơ thể. Các triệu chứng này chiếm ưu thế trong bệnh cảnh lâm sàng, trong đó triệu chứng đau là phổ biến nhất. Bệnh nhân than phiền đau mỏi vai gáy, cột sống, đau mỏi các khớp. Trầm cảm ở bệnh nhân SSTT chủ yếu biểu hiện bằng các triệu chứng sinh học, còn gọi là trầm cảm cơ thể [2]. Các triệu chứng hoạt động chậm chạp, mất ngon miệng và thay đổi nhịp sinh học là những triệu chứng nổi bật của trầm cảm ở BN SSTT. Cần phải phân biệt trầm cảm ở bệnh nhân sa sút trí tuệ và giả sa sút trí tuệ. Các triệu chứng điển hình của trầm cảm như giảm năng lượng, giảm khí sắc, mau mệt mỏi thường biểu hiện nhẹ nhàng, không hệ thống, bị che mờ bởi các triệu chứng cơ thể và các biểu hiện của suy giảm nhận thức. Phân biệt trầm cảm giả và sa sút trí tuệ bằng cách khám lâm sàng, các đáp ứng can thiệp tâm lý và điều trị thử thuốc chống trầm cảm. Trầm cảm làm giảm chất lượng cuộc sống, là tiên lượng nặng với BN SSTT [9].

Bảng 3.4 Các thuốc sử dụng trên đối tượng nghiên cứu

Các thuốc được sử dụng gồm an thần kinh, chống trầm cảm, chống co giật, giải lo âu, chất ức chế men cholinesterase. Điều trị  triệu chứng loạn thần và rối loạn hành vi thường sử dụng an thần kinh mới bởi vì chúng có tác dụng trên các triệu chứng loạn thần và ít tác dụng không mong muốn. ATK mới có hiệu quả điều trị ở những BN không đáp ứng với thuốc ATK cổ điển.

1.Thuốc ATK sử dụng gồm hai nhóm : ATK mới và ATK cổ điển.Theo y văn ATK cổ điển tác dụng tốt với hoang tưởng, ảo giác và kích động. Mặt khác, ATK cổ điển có nhiều tác dụng không mong muốn vì vậy ít được sử dụng với người cao tuổi. Người già thường mắc nhiều bệnh kèm theo, điều trị nhiều bệnh cơ thể do vậy lựa chọn ATK ở nhóm BN này cần cân nhắc tránh tương tác thuốc. Khi dùng ATK cổ điển ở BN SSTT nên tránh những thuốc kháng cholin làm BN lú lẫn. Nhóm ATK cổ điển có nhiều tác dụng phụ  ngoại tháp, run, bồn chồn, ngã, tụt huyết áp, ngủ nhiều… do vậy hạn chế sử dụng nhóm này với BN SSTT có loạn thần [1],[3]. Lonergan (2002) nghiên cứu hiệu quả của Haloperidol trên nhóm BN SSTT nhận thấy ưu thế vừa phải của các thuốc chống loạn thần cổ điển so với placebo [7].

Trong nhóm BN nghiên cứu chỉ có 4/45 người sử dụng ATK cổ điển phù hợp với các nghiên cứu trước. Những BN này đều có các triệu chứng loạn thần rầm rộ, kích động.

Bệnh nhân sử dụng ATK mới là 41/45 người (chiếm tỷ lệ 91,1%). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Rabinowitz (2007), nhận thấy risperidol có kết quả tốt với hoang tưởng, ảo giác, kích động (so sánh với nhóm chứng) [8] Tác giả Jamie (2009) NC điều trị bằng Olanpine trên BN SSTT có triệu chứng loạn thần nhận thấy Olanpine liều lượng thấp có tác dụng điều trị tốt hoang tưởng, ảo giác, kích động (có so sánh nhóm chứng)

BN được điều trị bằng ATK liều lượng thấp (Haloperidol 5mg/ngày, Olanpine 5-10mg/ngày, Risperdal 2mg/ngày…) chiếm đa số. Kết quả này phù hợp nghiên cứu của Nguyễn Kim Việt (2003) liều lượng ATK sử dụng trong nhóm BN SSTT có loạn thần cũng thấp hơn so với người trẻ. Theo Jamie (2009), liều Olanpine có tác dụng 5-10 mg/ngày, tăng lên 15mg/ngày  tác dụng điều trị cũng không tăng. Liều điều trị của các thuốc ATK phụ thuộc từng cá thể, nhưng trên nghiên cứu này liều điều trị thấp hơn so với các bệnh nội sinh và ở người trẻ.  Liperoti (2008) nhận thấy risperridol có hiệu quả trên BN SSTT có hoang tưởng, ảo giác, kích động với liều lượng 1-2 mg/ ngày. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong bảng 3.4 cho thấy thời gian duy trì ngắn trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu điều trị bằng ATK (Thời gian trung bình haloperidol 12 ngày, Olanpine là 21,5 ngày và Risperidol là 15,3 ngày). Theo y văn tác dụng chống loạn thần thường đạt nhanh nhất sau 7 đến 10 ngày dùng thuốc, sau đó duy trì liều lượng đó trong thời gian . Tuy nhiên, BN SSTT lớn tuổi có nhiều bệnh cơ thể kèm theo, nguy cơ cao với các tác dụng phụ của thuốc, đặc biệt nguy cơ tim mạch nên nhiều nghiên cứu khuyên sử dụng liều thuốc thấp nhất có tác dụng, không nhất thiết phải duy trì kéo dài.

2. Thuốc điều trị suy giảm nhận thức

BN điều trị bằng thuốc điều trị nhận thức là 35/45 người (chiếm tỷ lệ 77,8%). BN sử dụng aricepts gồm 20/35 người (chiếm tỷ lệ 57,1%); người bệnh dùng reminyl gồm 15/35 người (chiếm tỷ lệ 42,9%). Liều lượng trung bình aricepts 5mg/ngày, reminyl 4mg/ngày (Bảng 3.4). Thuốc điều trị suy giảm nhận thức dường như cũng có tác dụng trên hoang tưởng, ảo giác của nhóm bệnh nhân nghiên cứu. Hoang tưởng, ảo giác là những triệu chứng xuất hiện sau suy giảm nhận thức, khi dùng thuốc điều trị nhận thức làm chậm quá trình suy giảm nhận thức và nhận thức có chiều hướng được cải thiện vì vậy hoang tưởng ảo giác cũng giảm. Lựa chọn thuốc điều trị nhận thức là lựa chọn đầu tiên mà các tác giả khuyên dùng ở BN SSTT mức độ nhẹ và vừa có hoang tưởng, ảo giác.

3.Thuốc chống trầm cảm

BN dùng thuốc chống trầm cảm là 23/45 người (chiếm tỷ lệ 51,1%). Số bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc chống trầm cảm thế hệ mới là nhiều nhất (12 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 52,1%), đây là nhóm thuốc có rất ít tác dung phụ sẽ là chọn lựa tối ưu đối với trầm cảm tuổi già. Tuy nhiên, trong nhóm nghiên cứu vẫn có 3 bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc chống trầm cảm 3 vòng, đây là nhóm thuốc có nhiều tác dung trên hệ cholinergic. Theo các tác giả (6)(7) tác động kháng cholinergic sẽ gây ra hoặc làm tăng các rối loạn tim mạch sẵn có. Thêm nữa các thuốc này có thể gây ra giảm trí nhớ, rối loạn định hướng ở người già. Đây là nhóm thuốc hạn chế sử dụng ở những người cao tuổi. Trên thực tế các thuốc chống trầm cảm 3 vòng vẫn được chọn lựa, vì thuốc chống trầm cảm 3 vòng là nhóm thuốc thiết yếu trong điều trị trầm cảm ở Việt nam hiện nay …. Một lý do quan trong khác là bệnh cảnh trầm cảm ở người cao tuổi có rất nhiều các triệu chứng cơ thể. Theo Jacoby (2) và Brice Pine (1) CTC 3 vòng, nhất là chống trầm cảm 4 vòng vẫn được coi là lựa chọn hàng đầu của các nước đang phát triển trong điều trị trầm cảm với các triệu chứng cơ thể.

Các thuốc bình thần, đặc biệt là Seduxen được sử dụng ở 96% bệnh nhân nghiên cứu. Có lẽ vì có tới 70% bệnh nhân nghiên cứu có các biểu hiện lo âu, căng thẳng sợ hãi. Một số tác giả còn cho rằng có thể phối hợp thuốc bình thản khi dùng Haloperidol hoặc Risperdal ở liều thấp…. để tránh tác dụng phụ bồn chồn (Akathesia) do thuốc gây ra. Theo các tác giả (Rossini D, Stephen H và cộng sự) việc sử dụng phối hợp CTC với các thuốc Benzodiazepine được thực hiện ở 54% - 63% bệnh nhân trầm cảm ở Pháp, Australia. Tuy nhiên các tác giả cũng khuyến cáo cần theo dõi chặt chẽ tác dụng phụ gây giãn cơ, loạng choạng, gây ngã gãy xương nhất là ở người cao tuổi.

-Bảng 3.4 còn cho thấy trong quá trình điều trị, ngoài thuốc ATK, chống trầm cảm các bệnh nhân cũng dược dùng thêm các thuốc chỉnh khí sắc, an thần kinh. Đây là những thuốc chỉ sử dụng khi cần thiết tùy theo mỗi bệnh cảnh lâm sàng. Các thuốc an thần kinh đươc sử dụng ở một số bệnh nhân có các triệu chứng loạn thần và rối loạn hành vi, thuốc được sử dụng với liều thấp và trong thời gian ngắn.

4. Hiệu quả điều trị

Bảng 3.6.  cho biết mức độ thuyên giảm các triệu chứng loạn thần. Hiệu quả điều trị của các thuốc chống loạn thần ở các BN nghiên cứu được đánh giá bằng thang SAPS, nhận xét của bác sỹ điều trị và người nhà bệnh nhân. BN có hoang tưởng hết hoàn toàn là 23/42 người (54,8%), giảm 1 phần là 21/42 người (50%), không giảm 3/42 người (7,2%). BN có ảo giác hết hoàn toàn hoặc giảm một phần là 27/29 người (93%). BN có hội chứng Paranoid, hội chứng Capgras đều giảm hoặc hết, chỉ có 2 người không giảm. Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Việt, các thuốc chống loạn thần, thuốc chống trầm cảm, thuốc điều trị nhận thức đã phát huy tác dụng trên BN SSTT có triệu chứng loạn thần, mặc dù liều lượng thấp và thời gian điều trị ngắn. Trong nhóm BN nghiên cứu của chúng tôi chỉ có một số nhỏ bệnh nhân không khỏi hoặc không thuyên giảm bởi vì BN SSTT mức độ nặng, mắc bệnh đã lâu không được ĐT, hoang tưởng ảo giác được củng cố vững chắc. Các triệu chứng cốt lõi của trầm cảm chỉ mới thuyên giảm nhưng chưa hết, khí sắc còn dao động trong ngày, còn mệt mỏi, chậm chạp cả trong suy nghĩ và hoạt động. Đặc biệt ở các bệnh nhân này còn có nhiều tác dụng phụ do các thuốc hướng thần, mặc dù các thuốc này đã được lựa chọn, với liều lượng thấp và duy trì trong thời gian ngắn

V Kết luận

Trên cơ sở 45 bệnh nhân nghiên cứu đặc điểm hoang tưởng ảo giác trên bệnh nhân sa sút trí tuệ người cao tuổi vào điều trị tại Viện Sức Khoẻ Tâm thần, chúng tôi rút ra được một số nhận xét

  1. Điều trị hoang tưởng, ảo giác ở bệnh nhân sa sút trí tuệ

Thuốc an thần kinh mới được sử dụng 91,1% BN nghiên cứu. Liều lượng thuốc trung bình thấp hơn một nửa so với bệnh nội sinh và người trẻ, thời gian sử dụng ngắn (khoảng 2 tuần), ít tác dụng phụ. Olanzapine liều lượng trung bình 7,5mg/ngày, thời gian sử dụng 21,5 +15,9, ít tác dụng không mong muốn. Risperdal liều lượng trung bình 3mg/ngày, thời gian sử dụng 15,3 +5,1. Các thuốc an thần kinh cổ điển hạn chế sử dụng cho các bệnh nhân cao tuổi

  1. Đáng giá hiệu quả điều trị trầm cảm ở các bệnh nhân này

Trong 23/45 các bệnh nhân sa sút trí tuệ được sử dụng các thuốc chống trầm cảm (chiếm tỷ lệ 51,1%). Số bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc chống trầm cảm thế hệ mới là nhiều nhất (12 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 52,1%), đây là nhóm thuốc có rất ít tác dung phụ sẽ là chọn lựa tối ưu đối với trầm cảm tuổi già. Và cải thiện được các triệu chứng u ám trên khuôn mặt người bệnh SSTT

Hiệu quả điều trị đạt được ở 54,8% bệnh nhân có hoang tưởng, 55% BN có ảo giác, 51,1% có các triệu chứng trầm cảm vì đây là quá trình bệnh lý thực tổn đang tiến triển. Bệnh nhân cao tuổi nhiều bệnh cơ thể kèm theo nên phải cân nhắc tránh tác dụng không mong muốn của thuốc hướng thần.

 

SUMMARY: In Vietnam, for there have been some research on the treatment of paranoid disorders, hallucinations in patients with dementia show signs of depressive disorder but have not been interested in finding out complete. Objective: Evaluate the use of drugs, therapeutic effect and to comment on undesirable effects in the treatment of paranoid disorders, hallucinations in patients with dementia show signs of depressive disorder. Methods: Description, advanced research using psychological tests to support. Results: In 45 patients with dementia disorders are manifestations of paranoia, hallucinations signs of depressive disorder. The drugs used include neuroleptic, antidepressant, anticonvulsant, anxiolytic, cholinesterase inhibitors. Treatment of psychotic symptoms and behavioral disorders often use new neuroleptics because they work on the psychotic symptoms and fewer undesirable effects (percentage of 91.1%) patients treated with low-dose neuroleptic (Haloperidol 5mg/today, Olanpine 5-10mg/today, Risperdal 2mg/today. New Antidepressants preferred choice because of less effective resistance cholinlesgic thus avoid affecting the perception of the disease personnel. Conclusion: paranoia, hallucinations are the symptoms after cognitive decline. Selecting treatment of cognitive decline is the first choice, but the authors recommended in bbenhj levels of dementia both mild paranoia and hallucinations. When patients show signs of disorder and paranoid delusions should coordinate with the neuroleptic dose and short-term. especially when patients with major depressive disorders need to take antidepressant I, the lowest dose effective, avoiding unnecessary prolonged side effects

 

 

Tài liệu tham khảo

1.Jun Yan (2009), “Antipsychotic Adverse Effect Found In Elderly AD Patient”, American Psychitric Association, Vol 44, pp 28.

2.  Bassiony MM, Lyketsos CG, (2003) “Delusions and Hallucinations in Alzheimer’s Disease: Review of the Brain Decade” Psychosomatics, (USA), Vol 44: pp 388-401.

3.Clive Ballard (2007), “Agitation and Psychosis in Dementia”, The American Journal of Geriatric Psychiatry, Vol 15, pp 913.

4.Ming-Jang Chiu (2006),Behavioral and psychological symptoms in different types of dementia”, J Formos Med Assoc; Vol 105 (7): 556-562

5.  Suzanne Holroyd (2000), ”Hallucinations and Delusions in Dementia” International Psychogeriatrics, USA, Vol 12, pp 113-117.

  1. 6. Kasper S, Lemming O.M, de Swart H(2006). “Escitalopram in the long-term treatment of major depressive disorder in elderly patients”. Neuropsychobiology. 54(3): 152-9.
  2. 7. Kaplan Sadock (1997). "Geriatric psychiatry", Synopsis of psychiatry, Williams & Wilkins, Seventh Edition. page 1155 – 1171.

8.Simon Levostone, Serge Gauthier (2001), “Psychiatric Symtoms” management of Dementia, Martin Dunitz, (USA), pp 35-47.

9.Rita Moretti, MD (2004), ”Olanzapine as a possible treatment for anxiety due to vascular dementia: An open study” American Journal of Alzheimer's Disease and Other Dementias®, Vol. 19, No. 2, 81-88.

  1. Yuri L.  Bron Stein, Jeffrey Cumming (2000), “Neuropsychiatric manifestation of Dementia, Alzheimer Disease and Related Disorder Annual”,  fists publication, Martin, Dunitz, (USA), pp 179 -193.

 


 
Copyright © 2009 by DrDung.com Bác sỹ : Nguyễn Văn Dũng ==> Đến trang quản trị
Địa chỉ: Viện Sức Khỏe Tâm Thần - Bệnh Viện Bạch Mai 78, Giải Phóng, Đống Đa, Hà Nội
email: drdungbm@yahoo.com Y!M: drdungbm online 24/24/7 .
This website have used Smart Colorful ™ and Smart Keyword ™ Technology.