|
CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP TRONG NHIỄM HIV/AIDS
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Các rối loạn tâm thần của người nhiễm HIV/AIDS là thường gặp. Một số nghiên cứu cho thấy gần 80 bệnh nhân có triệu chứng tâm thần ở một số giai đoạn trong suốt quá trình nhiễm HIV (Hayman, Bruhrich, 1994). Biểu hiện các triệu chứng khá phức tạp, đa dạng và khác nhau về mức độ. Nguyên nhânlaf do phản ứng tâm lý của bệnh nhân và các vấn đề về tâm lý xã hội khác liên quan đến việc nhiễm HIV/AIDS, cũng có thể là do hậu quả tổn thươngheej thần kinh do tác dộng trực tiếp của HIV hay do rối loạn hoạt động của hệ thần kinh ở một số bệnh nhiễm trùng cơ hội.
Những khó khăn về mặt tâm lý có thể xuất hiện ở bất cứ giai đoạn nào của bệnh, đặc biệt ở giai đoạn đầu khi bệnh nhân được thông báo kết quả test kháng thể dương tính và ở giai đoạn cuối của bệnh (AIDS). Những rối loạn tâm thần do nguyên nhân thực thể não tăng nên ở giai đoạn cuối với biểu hiện giảm khả năng miễn dịch và những biến chứng cơ thể.
Trong bài này các rối loạn tâm thần liên quan đến HIV/AIDS được trình bày theo thứ tự tiến triển của bệnh.
I. CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở GIAI ĐOẠN SƠ NHIỄM.
1. HIV xâm nhập vào cơ thể, qua hàng rào máu não tác động nên hệ thần kinh trung ương. Các triệu chứng trong thời kỳ này có thể chỉ là sốt nhẹ, uể oải, đau cơ, đau đầu, dễ bị kích thích, thay đổi khí sắc…
2. Về mặt tâm lý, thời gian làm test kháng thể và xác định kết quả dương tính là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên trong quá trình diễn biến của bệnh. Những phản ứng tâm lý thường gặp như: lo sợ về bệnh, sợ bị xã hội miệt thị, khả năng truyền bênh cho người khác, sợ bị xã hội ruồng bỏ, mặc cảm tự ti, bất lực trước cuộc sống, bi quan về tương lai, tức giận, buồn phiền. các triệu chứng trầm cảm và lo âu, rối loạn giấc ngủ là phổ biến. Điều này có thể đưa bệnh nhân đến ý tưởng muốc chết và hành vi tự sát. Ở giai đoạn này, rất cần sự can thiệp của các nhà tâm lý trị liệu và các nhà tư vấn, sự trợ giúp của cac cán bộ và tổ chức xã hội khác. Một số người có phản ứng thích nghi tích cực, họ có thể đương đầu và vượt qua giai đoạn stress này.
II. CÁC GIAI ĐOẠN NHIỄM TRÙNG CÓ TRIỆU CHỨNG SỚM VÀ KHÔNG CÓ TRIỆU CHỨNG.
Rối loạn tâm lý rõ rệt xảy ra ở những người có test kháng thể dương tính. Khoảng từ 10 – 20% số bệnh nhân này có giai đoạn lo âu, trầm cảm hoặc cả hai trong suốt thời kỳ không co triệu chứng.
1. Rối loạn sự điều chỉnh:
Rối loạn sự điều chỉnh xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào của bệnh, nó được xác định như những phản ứng kém thích nghi với stress.
Những rối loạn liên quan đến trầm cảm và lo âu ở trên 70% bệnh nhân nhiễm HIV (Hayman 1994).
Sự thiếu quan tâm chăm sóc của người thân, sự chế giễu, xa lánh của những người xung quanh, thiếu sự trợ giúp xã hội, tư vấn không đầy đủ… có thể gia tăng tác dụng của stress đối với người bệnh (nhiễm HIV là một stress mạnh). Đôi khi stress làm xuất hiện những rối loạn lo âu và khí sắc ở một vài bệnh nhân sẵn có tiền sử rối loạn tâm thần.
Một số người có khả năng tự điều chỉnh thích ứng với stress. Một số khác có thể xó những rối loạn hành vi kém thích nghi như hoạt động tình dục không an toàn, lạm dụng thuốc, tức giận bất toại, tự ti…
* Trầm cảm: Là một hội chứng thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV, có thể là:
- Rối loạn thích ứng với khí sắc trầm như là trầm cảm phản ứng (stress là nguyên nhân của trầm cảm). Đây là loại phổ biến nhất. Mức độ triệu chứng có thể từ nhẹ đến nặng và được cải thiện qua thời gian mà không cần dùng đến thuốc.
- Trầm cảm nặng là sự ức chế cảm xúc kéo dài nặng lên vào buổi sáng, giấc ngủ bị rối loạn, buồn rầu vì sợ mắc bệnh và khả năng truyền bệnh cho người khác. Loại này ít phổ biến hơn, để điều trị, cần phải dùng thuốc chống trầm cảm.
- Rối loạn cảm xúc thực tổn, thường xuyên đi kèm với suy giảm nhận thức. Nguyên nhân chính là do tác động trực tiếp của HIV lên hệ thống thần kinh trung ương.
* Lo âu: là triệu chứng hay gặp và thường kéo dài, có thể là lo âu lan tỏa hay các cơn hoảng sợ. các triệu chứng xung đột thường mang tính chất chủ quan, tạm thời so với rối loạn cảm xúc chứ không phải là sự sa sút sớm.
Xử trí các rối loạn sự thích ứng đòi hỏi một biện pháp tâm lý tích cực. Liệu pháp nhận thức – tác phong có thể đưa bệnh nhân đến đáp ứng thích nghi tốt đối với stress. Thư giãn, tư vấn, liệu pháp tâm lý cá nhân, liệu pháp tâm lý nhóm rất cần thiết. Đôi khi để điều trị các triệu chứng nặng cần dùng đến các thuốc hướng thần.
2. Tự sát:
Ý tưởng tự sát thường xảy ra ở những người nhiễm HIV/AIDS. Các nghiên cứu của Mỹ cho thấy tự sát gia tăng 66 lần so với dân số nói chung (N.Buhzich 1994). Người nhiễm HIV cho rằng cuộc sống còn lại của họ không còn ý nghĩa và muốn kết thúc bằng một cái chết không đau đớn. Tự sát thường xảy ra ở hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu khi có kết quả test kháng thể dương tính. Tự sát xảy ra như một phản ứng xung đột trên nền rối loạn cảm xúc do stress.
- Giai đoạn cuối khi có nhiều biến chứng thần kinh tâm thần của AIDS.
Một số yếu tố khác tham gia vào nguy cơ tự sát:
* Rối loạn khí sắc trước khi bị bệnh.
* Đang có bệnh tâm thần.
* Các stress tâm lý – xã hội khác.
* Tham vấn trước và sau test liên quan đến HIV không đầy đủ.
* Thiếu sự quan tâm, săn sóc, bao dung của người thân và xung quanh và sự trợ giúp của các tổ chức xã hội khác.
Các vấn đề cần được xem xét trong việc giải quyết các ý tưởng và hành vi tự sát:
* Sự giúp đỡ về tâm lý có thể làm giảm lo âu và giải thoát cho bệnh nhân khỏi nỗi sợ hãi AIDS.
* Sự quan tâm và săn sóc về vật chất cũng như tâm lý của người thân và cộng đồng.
* Điều trị các triệu chứng tâm thần như trầm cảm nặng.
III. CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở GIAI ĐOẠN CÓ TRIỆU CHỨNG VÀ AIDS.
Đến giai đoạn này, các rối loạn tâm thần phản ánh hậu quả của sự tác động sâu sắc và kéo dài của HIV đến hoạt động của não, gây rối loạn chức năng não. Não lâm vào trạng thái bị phong tỏa, suy yếu các trung khu, và bởi vậy phát sinh những rối loạn chức năng hiểu biết (trí nhớ, trí tuệ), chức năng nhận biết (ý thức, chú ý), cũng như các rối loạn chức năng cảm giác, tri giác tư duy (hoang tưởng), cảm xúc (trầm cảm, hưng cảm, loạn cảm), hành vi và nhân cách.
1. Mê sảng: Là trạng thái rối loạn ý thức gặp trong giai đoạn muộn nhiễm HIV/AIDS. Người bệnh tác rời khỏi thế giới bên ngoài, tri giác khó hoặc mất các sự vật xung quanh; rối loạn nặng năng lực định hướng môi trường xung quanh; định hướng về thời gian và không gian bị lệch lạc. Còn có khả năng tư duy định hướng về bản thân.
- Mê sảng được đề cập đén như một hội chứng não thực tổn cấp tính. Biểu hiện khởi phát nhanh, trạng thái bàng hoàng, lo âu, sợ hãi. Đây là triệu chứng sớm, quan trọng. Sau đó tiến triển thành lú lẫn, rối loạn trầm trọng về năng lực định hướng xung quanh và bản thân, không tiếp xúc được. Người bệnh tri giác những đối tượng lẻ tẻ bên ngoài, không thể tổng hợp lại được. Lời nói rời rạc, các từ không liên quan, khó hiểu.
- Các tri giác nhầm và ảo giác, về đêm có nhiều ảo giác thị giác mang tính chất ghê rợn.
- Người bệnh kích động trong phạm vi giường nằm, động tác rời rạc, vô nghĩa.
Điểm dáng chú ý các nhân tố làm tăng thêm trạng thái mê sảng:
Tật chứng về nhận thức liên quan đến HIV
- Mất trí nhiễm khuẩn não như bệnh Toxoplasmosis hay viêm não do Cryptococus.
- Giảm oxy máu, ví dụ là hậu quả của bệnh viêm phổi do Pneumocystis.
- Các rối loạn chuyển hóa, như tiêu chảy gây ra mất ca bằng điện giải.
- Tăng áp lực nội sọ: Tổn thương não lan rộng, u não, apxe não…
- Lạm dụng các chất nghiện, hay hội chứng cai.
- Hậu quả dùng các thuốc giảm đau, thuốc gây ngủ, thuốc Corticosteroids, các thuốc có tác dụng chống hoạt hóa Cholinergic (anti – cholinergic) làm tăng lú lẫn.
Giải quyết hội chứng mê sảng cần phải hướng vào việc chẩn đoán và điều chỉnh nguyên nhân chính gây ra mê sảng (nguyên nhân nằm bên dưới hội chứng mê sảng). Đề phòng bệnh nhân gây tổn hại qua hành vi bị rối loạn do ảo giác và hoang tưởng bị chi phối. Chú ý truyền điện giải nhằm tăng dinh dưỡng cho người bệnh. Chăm sóc bồi dưỡng tốt và chốn loét do nằm nhiều.
2. Phức hợp nhận thức – vận động liên quan đến HIV (Phức hợp mất trí do HIV/AIDS):
Phức hợp nhận thức – vận động do AIDS là tật chứng thần kinh tâm thần nặng. Biểu hiện bằng sự suy giảm trí tuệ và rối loạn hành vi vận động. Theo Hayman (1994) 5% bệnh nhân AIDS có tật chứng này.
Không giống bệnh Alzheimer, một bệnh mất trí của của não, mất trí xảy ra ở những người nhiễm HIV/AIDS là mất trí dưới vỏ. Những biến đổi lâm sàng chủ yếu xảy ra ở hệ viền và các đường liên lạc thùy trán. Các cấu trúc này có tầm quan trọng trong việc điều chỉnh khí sắc, hành vi. Bởi vậy, các biến chứng về tâm thần, thần kinh có thể xảy ra khi các cấu trúc đó bị tổn thương.
* Sự biến đổi nhân cách thực tổn:
Toàn bộ những thuộc tính tâm lý cá nhân bị biến đổi. Do tổn thương não (nhiễm trùng, nhiễm độc) nên được xếp vào rối loạn nhân cách thực tổn, bao gồm cả hội chứng tâm thần thực thể biểu hiện bằng sự suy yếu chung về các mặt tâm thần: trí nhớ rối loạn, trí năng suy yếu, cảm xúc biến đổi.
Hội chứng nhân cách thực tổn được đặc trưng bởi các biến đổi đáng kể các hành vi quen thuộc của bệnh nhân trước khi bị bệnh.
- Rối loạn cảm xúc không tự chủ, không ổn định, dễ thay đổi, giận dữ, nôn nóng, dẫn đến hành vi giải ức chế, dễ bị kích thích có thể gây hại cho người khác.
- Người bệnh giảm khả năng duy trì các hoạt động có mục đích, suy giảm trí nhớ, khó tập trung suy nghĩ.
- Đôi khi có hành vi xung động, không xét đến hậu quả hoặc qui ước xã hội.
Ở những người mất trí do bệnh AIDS có thể có sự thoải mái nhân cách – Các triệu chứng vô cảm, mất động cơ, mất sáng kiến có lẽ phản ánh tổn thương thùy trán và các đường liên lạc của chúng.
3. Rối loạn trầm cảm thực tổn:
Các rối loạn được đặc trưng bởi sự thay đổi khí sắc, hay cảm xúc giảm, sự chậm chạp về tinh thần, sự né tránh các công việc phức tạp.
- Các triệu chứng mất ngủ, kém tập trung, chán ăn, giảm trọng lượng và dục năng là những biểu hiện thường gặp trong nhiễm HIV tiến triển, làm khó phân biệt với các rối loạn trong trầm cảm nội sinh.
- Trầm cảm chẩn đoán nhầm với quá trình mất trí. Lấy việc điều trị trầm cảm có kết quả để xem xét.
- Trầm cảm và mất trí cùng tồn tại; đặc biệt ở giai đoạn biến đổi của tật chứng nhận thức.
Trầm cảm gây bệnh cảnh lâm sàng tồi tệ hơn.
4. Rối loạn kí sắc thực tổn:
Đặc trưng các rối loạn này là sự thay đổi khí sắc hay cảm xúc kèm theo sự thay đổi về hoạt động. Người bệnh giảm nhu cầu ngủ, dễ bị kích thích, mất sáng suốt. Hoang tưởng tự cao, tự cho mình giàu nhất thế giói. Họ tiêu sài tất cả của cải của mình, ăn mặc cho thật ngộ nghĩnh. Điều này trái ngược với nhân cách trước khi bị bệnh.
5. Rối loạn hoang tưởng thực tổn (giống tâm thần phân liệt).
Một rối loạn trong đó các hoang tưởng dai dẳng chiếm ưu thế trong bệnh cảnh lâm sàng. Hoang tưởng bị hại. Bệnh nhân đinh ninh rằng cho họ nằm viện là để thực hiện âm mưu lấy cắp tài sản hoặc đầu độc họ.
Kèm theo cac rối loạn tri giác thực tổn – thường gặp là ảo giác thính giác, ảo giác thị giác.
6. Những phản ứng tâm lý của bệnh nhân AIDS.
* Sợ hãi vì cái chết đang đến gần.
* Từ chối, phủ nhận bệnh.
* Giận dữ, trầm cảm, nhất là ở bệnh nhân thiếu sự giúp đỡ.
* Tội lỗi: Cảm thấy mình có tội với gia đình, người thân.
* Lo âu: Luôn sợ bị gia đình, bạn bè, xã hội ruồng bỏ, nhất là ở giai đoạn cuối của bệnh. Sợ mọi người biết mình bị bệnh, thấy mất dần đi giá trị bản thân, thấy mình là gánh nặng cho gia đình, mất hoạt động tình dục, sợ lây virut cho vợ hoặc người tình. Bệnh nhân không chỉ có sự đau buồn về cái chết đang đến gần, mà nhiều khi phải đối nặt với cái chết của người thân do bị AIDS. Sự nhập viện để điều trị kéo theo sự mất việc, giảm thu nhập và một số thói quen trong cuộc sống gia đình, nghề nghiệp, xã hội trước đây.
IV. NHỮNG RỐI LOẠN TÂM THẦN LIÊN QUAN ĐÉN HIV Ở NHỮNG NGƯỜI KHÔNG BỊ NHIỄM HIV:
Những ảnh hưởng tâm lý xã hộ của người nhiễm HIV/AIDS còn có tác động trên những người bạn tình, bạn bè, những người xung quanh. Đó là những nỗi lo sợ bị nhiễm bệnh, có khi thực tế, nhưng có khi là hoang tưởng. Có thể xếp thành 3 nhóm:
1. Nhóm coi thường lây bệnh:
Những người đã quan hệ tình dục với gái mại dâm hay đồng tính luyến ái (nguy cơ lây nhiễm cao) luôn nghĩ rằng mình không bị lây bệnh, nhất là khi test kháng thể HIV âm tính. Cần khuyên họ làm test kháng thể 2 lần sau 3 tháng kể từ sau khi có hành vi nguy cơ.
2. Nhóm nghi bệnh:
Ngược lại nhóm trên, những người này thường tin rằng mình bị nhiễm HIV. Các test kháng thể HIV âm tính chỉ làm cho họ yên tâm tạm thời và nghĩ rằng có thể là âm tính giả tạo hoặc họ bị nhiễm một virut mới. Họ bận tâm vào triệu chứng thực thể mơ hồ như uể oải, người mỏi mệt mà các triệu chứng này có thể là biểu hiện của lo âu. Đôi khi họ có nguy cơ tự sát.
Liệu pháp tâm lý để loại trừ stress có thể làm giảm lo âu và trầm cảm.
3. Nhóm loạn thần:
Hoang tưởng bị bệnh nhiễm HIV/AIDScos thể là một phần của bệnh loạn thần. Bệnh nhân không có hành vi nguy cơ nhưng vẫn hoang tưởng cho rằng mình bị nhiễm HIV. Ví dụ, bệnh nhân nghĩ rằng người bồi bàn sống trụy lạc và lây bệnh sang mình. Những người này cần được khám tâm thần để có một điều trị thích hợp.
V. ĐIỀU TRỊ CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM HIV/AIDS.
Nhiễm HIV/AIDS thực sự làm cho người bệnh có những biến đổi về tâm lý, về cơ thể - Tổn thương não gây ra những rối loạn tâm thần ở các mức độ khác nhau hình thành các hội chứng lâm sàng khác nhau. Điều trị các rối loạn tâm thần liên quan đến nhiễm HIV/AIDS phải bao gồm liệu pháp hóa dược, liệu pháp tâm lý và xã hội.
1. Liệu pháp hóa dược:
Trong các giai đoạn của nhiễm HIV/AIDS, việc sử dụng các thuốc hướng thần là cần thiết. Điều đáng chú ý, bệnh càng tiến triển thì càng tăng sự nhạy cảm của thuốc, đặc biệt là đối với các tác dụng phụ của thuốc. Điều này, liên quan đến những thay đổi về dược động học do các bệnh cơ thể gây ra, cũng như các bệnh thực tổn não.
1.1. Chống loạn thần và rối loạn hành vi:
Thuốc chống loạn thần được chỉ thị trong các trạng thái kích động và hoang tưởng, chủ yếu là Haloperidol thuộc nhóm an thần kinh (neuroleptique Haloperidol uống hoặc tiêm bắp 0,5 – 1,5mg/ngày khi bệnh nhân kích động, rối loạn hành vi tác phong nặng, có thể liều cao hơn 3mg/ ngày chia 2 lần sáng và tối).
Haloperidol có thể gây trạng thái bồn chồn, hội chứng ngoại tháp Parkinson, nặng hơn gây hội chứng an thần kinh ác tính (sốt cao, xanh tái, rối loạn thần kinh tực vật…). Nên cần chú ý dùng liều thấp ngay từ đầu và tìm khoảng liều đạt được trên từng bệnh nhân cụ thể.
1.2. Chống trầm cảm:
Các thuốc chống trầm cảm (Antidepresseurs) thường dùng là loại thuốc chống trầm cảm 3 vòng như Amitriptiline, Anafranil, Melipramine, sử dụng trong các trạng thái tâm thần chậm chạp, lãnh đạm, mất ngủ, trầm cảm lo âu, trầm cảm vật vã. Lúc đầu uống 10mg/ngày, sau đó tăng 30mg/ngày chia làm 2 lần. Có thể tăng lên liều tối đa 150mg/ngày. Cần chú ý tác dụng phụ: khô miệng, khó đái, và có thể tăng mê sảng.
1.3. Chống lo âu:
Các thuốc giải lo âu như Diazepam, Seduxem dùng liều thấp, 5–10mg/ ngày rất có ích trong các triệu chứng lo âu, khi dùng liều cao có thể gây doãi cơ, mất tập trung chú ý.
1.4. Thuốc chống AIDS:
Zidovudin 200 – 300mg/ngày, ngăn chặn sự tiến triển của tật chứng nhận thức liên quan đến AIDS.
1.5. Thuốc điều trị bệnh cơ thể (nếu có), các thuốc bổ tăng cường thể lực.
2. Liệu pháp tâm lý:
Để có điều trị thích hợp người thầy thuốc phải biết rõ các vấn đề tâm lý, hoàn cảnh sống, môi trường xã hội của bệnh nhân từ khi xét nghiệm HIV dương tính đến khi chẩn đoán nhiễm trùng giai đoạn IV.
2.1. Liệu pháp tâm lý cá nhân: Đóng vai trò quan trọng.
Ngay trước khi làm test, người thầy thuốc cần tiếp xúc tâm lý với người bệnh. Đánh giá nguy cơ lây nhiễm bằng cánh thảo luận cởi mở với bệnh nhân về các hành vi tình dục cũng như hành vi nguy cơ khác. Thông báo cho bệnh nhân về sự lan truyền của HIV, tiến triển của bệnh, các cách điều trị và vai trò dự phòng. Liệu pháp hành vi nhận thức giúp cho bệnh nhân có hành vi tích cực để vượt qua stress và thích nghi tốt trong cuộc sống.
* Tư vấn trước test HIV.
Bởi vì chẩn đoán kháng thể HIV (+) ảnh hưởng tâm lý xã hội sâu sắc nên cần tư vấn trước test cẩn thận. Tư vấn trước test cho một cơ hội kiểm tra các vấn đề góp phần vào sự đau khổ, lẫn lộn và hiểu thông tin sai về nhiễm HIV và test. Nó cũng cho cơ hội để vạch kế hoạch chiến lược làm giảm tối thiểu nguy cơ lan truyền HIV sau này. Tư vấn trước test hiệu quả khuyến khích trao đổi thông tin và khám phá cảm nghĩ, các vấn đề tâm lý xã hội và chiến lược ứng phó. Nó cũng trao một cơ hội để đánh giá tâm lý lâm sàng. Quá trình này đưa đến cho bệnh nhân với mức tối đa ngững thông tin có hiệu quả về những liên quan y học, tâm lý, xã hội và luật pháp đối với nhiễm HIV. Nó sẽ làm giảm khả năng lây truyền HIV và cho phép đánh giá các yếu tố được nêu ra để quản lý người nhiễm HIV (Ví dụ hệ thống hỗ trợ xã hội, bệnh sử tâm thần, cơ chế ứng phó).
Để giúp hoàn thành những kết quả này, những nhiệm vụ sau cần được làm:
- Đánh giá nguy cơ nhiễm:
Điều này có thể hoàn thành tốt nhất bằng thảo luận mở về hành vi tình dục và những yếu tố nguy cơ khác có liên quan (Ví dụ sử dụng ma túy và lịch sử tình dục của bạn tình).
- Cung cấp thông tin y học về HIV:
Điều này nên đưa vào thảo luận và thông tin về virus lan truyền như thế nào, về chuyển đổi huyết thanh, thời kỳ cửa sổ và tiến triển bệnh. Sự mô tả điều trị có hiệu quả và vai trò đề phòng cũng cần thực hiện ở giai đoạn này.
- Thảo luận về chiến dịch phòng ngừa:
Thảo luận về thực hành tình dục và tác phong sử dụng ma túy an toàn hơn. Ở đây bao gồm cả sự mô tả về sử dụng bao cao su như thế nào và giải thích nếu cần thiết. Tầm quan trọng sử dụng kim, syringe và dụng cụ sạch cần thiết được nhấn mạnh với những đối tượng sử dụng hoặc có ý định sử dụng ma túy bằng đường tiêm. Thông tin về điều này ở đâu, như thế nào và hướng dãn các phương pháp làm sạch thích hợp là rất quan trọng.
- Đánh giá phản ứng kết quả test, cơ chế ứng phó và mức độ lo âu:
Những câu hỏi mở trực tiếp như:
- Bạn cảm thấy bạn có phản ứng như thế nào nếu kết quả là (+)?
Cho phép cả hai đối tượng và nhà lâm sàng đánh giá sự chuẩn bị cho kết quả (+), đặt ra một chiến lược thích hợp tham gia vào sự ứng phó.
- Thảo luận về vấn đề giữ bí mật:
Nếu như sự bí mật không thể đảm bảo, nên thảo luận để cho phép đối tượng, nếu họ muốn thử test ở một nơi nào đó mà có thể giữ được bí mật. Do nhiều vấn đề tâm lý liên hợp với kết quả test HIV, sau các buổi tư vấn trước test, cần hẹ gặp đối tượng để nhận kết quả. Không nên báo kết quả qua điện thoại.
*tư vấn sau test HIV:
- Kết quả kháng thể(-):
Khi đưa kết quả (-), nhà lâm sàng nên lợi dụng cơ hội đánh giá lại nguy cơ hành vi có thể lây nhiễm kể từ làm test và 3 tháng trước khi làm test. Nếu có hành vi không an toàn nên khuyên đối tượng làm lại test. Khi đư kết quả, nên thông tin về sự lây truyền, những hành vi tình dục và sử dụng ma túy an toàn hơn mà không nên nói về những khó khăn thay đổi hành vi an toàn .
Đối với một vài người , kết quả (-) không đủ làm giảm sự lo âu nặng lề và sự tin tưởng là họ dã bị nhiễm HIV . Một số muốn hỏi kết quả và thảo luận về những điều liên quan của họ và triệu chứng mà họ tin là có liên quan tới HIV. Nếu như sự dảm bảo an toàn không làm giảm lo âu và đối tượng yêu cầu làm lại test, cần khám kỹ về tâm thần , những đối tượng này CPTTT ó thể có những rối loạn tâm lý cũng như các rối loạn ám ảnh cưỡng bức hoặc ghi bệnh.
- Kết quả test (+):
Kết quả test (+) cáo thể là đầu tiên trong nhiều giai đoạn khủng hoảng của quá trình nhiễm HIV. Phản ứng rất da dạng, một số phản ứng với sốc mạnh và rất đa khổ , một số khác có có cảm súc tê liệt ( chết lặng), hoặc có khi biểu hiện im lặng chấp nhận.
Nhà lâm sàng cần cung cấp chẩn đoán một cách sáng và trực tiếp. Nên nói một cách mạch lạc như “test HIV của bạn đã kết luận là (+) nghĩa là bạn đã nhiễm HIV”
Nhà lâm sàng cần tạo môi trường an tâm, thiện cảm đẻ cho phép bệnh nhân thảo luận về những cảm giác và suy nghĩ cảu họ.
- Kết quả không xác định:
Đưa ra một kết quả không xác định cũng có thể là một stress do không đưa ra một kết luận cụ thể nào về tình trạng kháng thể hiện tại của đối tượng và lo âu trước khi làm test có thể lại tăng lên. Nên khuyên đối tượng nói về những cảm nghĩ cảu họ và những câu hỏi về kết quả. Rất càn phaier làm test lại.
2.2. Liệu pháp tâm lý nhóm.
Có tác dụng trong việc giải quyết các phản ứng tâm lý của người bệnh. Các thành viên trong nhóm có các hình thức sinh hoạt đa dạng: Trao đổi, mạn đàm, nêu các vấn đề các thành viên trong nhóm cùng bàn bạc giải quyết. Tham gia các hoạt động giải trí ,thẻ thao, lao động , văn hóa xã hội để cảm thấy cuôcj sống còn ỹ nghĩa.
2.3. Liệu pháp tâm lý gia đình:
Là cần thiêt, vì các phản ứng tâm lý nặng hay nhẹ còn tùy thuộc vào sự nâng đỡ, sự quan tâm chăm sóc cảu các thành viên trong gia đình . Người thầy thuốc tiếp xúc trao đổi với họ các cách quan tâm chăm sóc về tâm lý giúp cho người bệnh thích nghi tốt với cuộc sống.
2.4 Các vấn đề tâm lý xã hội:
Nhà tâm lý trị liệu càn kết hợp với các cán bộ tư vấn, cán sự xã hội , gia đình, các tổ chức xã hội khác để giúp bệnh nhân ứng phó tôt với các vấn đề tâm lý xã hội mà bệnh nhân gặp phải trong mỗi giai đoạn bệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 – Hayman, J., Bruhrich, N., 1994: The AIDS manual, 1994
Maclennan, Petty.
Sydnsy, philadephia, LonDon.
2 – Masci, J.R., 1992.
Primary anh Ambulatpory care of the HIV – infected adult.
Móby – Year book, Inc, USA.
LBL_NEWERNAME
LBL_OLDERNAME
|