Bác sỹ : Nguyễn Văn Dũng
Trưởng phòng
Phòng Điều trị bệnh nhân tâm thần nam và Điều trị nghiện chất.
Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia - Bệnh viện bạch mai.


Y!M chat : drdungbm

MỘT SỐ HÌNH ẢNH ĐIỆN NÃO ĐỒ TRONG LÂM SÀNG

I. Một số biến đổi điện não đồ (ĐNĐ) theo tuổi và trạng thái
Người lớn khoẻ mạnh, ở trạng thái nghỉ ngơi nhắm mắt, ghi được ĐNĐ có nhịp an - pha là chủ yếu ở các phần sau - giữa của não bộ. Biên độ trung bình của các sóng khoảng 70mcV. Tần số: 8-13 dao động trong một giây (dđ/s). Đặc biệt sự tăng giảm lần lượt biên độ đã tạo nên nhịp "hình thoi" (hình trám) (hình 1). Khi hoạt động chức năng của não tăng lên (sự chú ý, căng thẳng, tăng cường hoạt động trí tuệ, lo lắng...) biên độ nhịp an - pha bị giảm cho đến mất hoàn toàn. Những kích thích bất ngờ, đột ngột (như loé sáng, âm thanh...) sẽ gây nên mất đồng bộ nhịp an - pha, đó là phản ứng hoạt hoá hoặc dập tắt. Khi những nghiên cứu nói trên được lặp đi lặp lại thì phản ứng đó yếu dần, rồi từ từ tắt hẳn.
Nhịp bêta ở người khoẻ mạnh được thể hiện rõ nhất trên các vùng: hồi não trước - trung tâm; biên độ từ 10 - 20mcV, tần số 13 - 15 dđ/s. Trả lời đối với hoạt hoá vận động hoặc kích thích xúc giác cũng cho phản ứng dập tắt như nhịp an - pha.
ĐNĐ của người khỏe mạnh, thức thường có cùng một dạng, đối xứng giữa hai bán cầu. Ở các chuyển đạo giống nhau có ĐNĐ giống nhau. Tuy nhiên vẫn có một tỷ lệ không lớn số người với ĐNĐ có sóng chậm biên độ thấp, bị rối loạn, mất cân xứng giữa hai bán cầu. Ở 35 - 40% số người được nghiên cứu có biên độ nhịp an-pha bên bán cầu trái thấp hơn.
Trong phần lớn trường hợp ĐNĐ phụ thuộc bởi lứa tuổi (Hình 5), trạng thái chức năng sinh lý của đối tượng nghiên cứu (như ngủ, thức, những xúc cảm khác nhau...).
Ở trẻ sơ sinh không có các sóng hoạt động điện có nhịp và điều hòa trên ĐNĐ. Gồm những nhịp chậm lan tỏa thuộc dải tần số đen-ta, thiếu sự khác biệt về vùng và mất cân xứng giữa hai bán cầu. Tuổi tăng lên, các sóng chậm được thay bằng những dao động nhanh hơn: như an-pha và bê-ta. Đến tuổi 16 biên độ và tần số nhịp cơ bản của ĐNĐ đi vào ổn định. Ở người có tuổi ta thấy tăng rõ rệt lượng sóng bê-ta trên ĐNĐ, cũng như các sóng chậm tê-ta và đen-ta.
Trong lúc thức, hoạt động, khi căng thẳng đầu óc (gắng sức trí tuệ) biên độ ĐNĐ bị giảm, tần số các dao động tăng lên. Nhưng khi thức, với trạng thái thư giãn, nhịp an-pha chiếm ưu thế (trong dưỡng sinh các nhà thiền càng có hiệu quả thì sóng, nhịp an-pha càng có biên độ cao), phản ứng hoạt hóa đối với kích thích từ bên ngoài được duy trì. Ở trạng thái buồn ngủ nhịp an-pha bị rối loạn, xuất hiện những dao động tê-ta và đen-ta biên độ thấp đơn độc hoặc thành nhóm. Khi ngủ say, nhịp đen-ta và tê-ta trở nên trội, biên độ tương đối cao.
Trong các quá trình bệnh lý và trong những trạng thái chức năng của đối tượng, các thông số bình thường của ĐNĐ bị biến đổi và thay vào đó là những hình ảnh ĐNĐ tương ứng nhất định. Những biến đổi này có thể đưa đến hoặc chỉ những đặc điểm về lượng, hoặc thể hiện dưới dạng một ĐNĐ mới không còn tính chất bình thường - đó là dạng những dao động điện thế bệnh lý. Trường hợp thứ nhất - có thể tăng và điều chỉnh tính điều hòa của các nhịp an-pha và bê-ta - tăng biên độ và chỉ số của chúng, ta gọi là sự đồng bộ hóa. Trường hợp khác, có thể quan sát thấy sự thay đổi hoạt động sóng được điều chỉnh về thời gian, chậm hơn bằng những dao động điện thế sinh vật tương đối nhanh và ít điều hòa hơn, biên độ thấp, tần số lớn - đó là sự mất đồng bộ. Trên ĐNĐ xuất hiện nhịp đen-ta (0,5 - 3dđ/s, biên độ 100 - 300 mcV) và tê-ta       (3 - 7 dđ/s, biên độ 100 - 200 mcV) nói lên giảm hoạt động chức năng của não do có những biến đổi về mặt sinh lý. Thuộc các hiện tượng bệnh lý, như động kinh được thể hiện trên ĐNĐ trong dạng các "nhọn", phức hợp "nhọn - sóng chậm", "nhọn sóng" v.v... Khi đọc ĐNĐ phải chú ý đến thông số thời gian. Đó là những đoạn ĐNĐ trên đó ghi được hoạt động điện tương đối đồng nhất, thí dụ: chu kỳ nhịp an-pha được thể hiện trên nền mất đồng bộ các dao động đen-ta, tê-ta, các cơn kịch phát xuất hiện đột ngột và kéo dài không lâu và v.v...
Đặc điểm hoạt động điện của vỏ bán cầu đại não phụ thuộc bởi chức năng các cấu trúc dưới vỏ và thân não. Sự suy giảm ảnh hưởng hoạt hóa đi lên của cấu tạo lưới thân não sẽ làm mất đi sự khác biệt về vùng trên ĐNĐ, thiếu vắng sự phong bế nhịp an-pha khi mở mắt và sẽ làm tăng tương đối biên độ của nó. Nhưng khi tăng ảnh hưởng cấu tạo lưới thì biên độ và chỉ số an-pha bị giảm cho đến khi mất hoàn toàn, nhịp bê-ta trở nên trội, chiếm ưu thế trên tất cả các vùng.
Để làm rõ hơn ổ hoạt động bệnh lý, đặc biệt khi ghi ở trạng thái yên tĩnh nó thể hiện không được rõ, người ta dùng những nghiệm pháp chức năng khác nhau: tăng thông khí, kích thích bằng ánh sáng nhấp nháy, âm thanh, ấn lần lượt các động mạch lớn v.v... Khi sử dụng nghiệm pháp mở mắt, nhắm mắt có thể xác định được mức độ tiếp xúc của bệnh nhân, mức độ tri giác và tính phản ứng. Nhờ hàng loạt chớp ánh sáng có thời khoảng và tần số xác định đã làm bộc lộ phản ứng đồng hóa nhịp. Thường tiến hành nghiệm pháp tăng thông khí vào cuối nghiên cứu.  Bệnh nhân thường thở sâu, đều (từ 16 - 20 lần/phút). Ta ghi ĐNĐ một phút trước khi làm nghiệm pháp tăng thông khí, cho bệnh nhân thở 3 phút sau đó ghi ĐNĐ.
Hình 8. Các dạng nhịp an-pha điều hòa trên các vùng thuộc não bộ
Hình 9: ĐNĐ trẻ em 7 - 8 tuổi
A. ĐNĐ trẻ em 7 tuổi với nhịp an-pha ổn định
B. Những sóng chậm kịch phát trên ĐNĐ trẻ em 8 tuổi
Hình 10: Hoạt động điện của não bộ ở trẻ em 14 tuổi
A. Đường ghi nền
B. Phản ứng hoạt hóa khi kích thích âm
Hình 11. ĐNĐ của người già
A. Nhịp an-pha quá đồng bộ trên ĐNĐ của người 63 tuổi
B. Hoạt động điện mất đồng bộ, biên độ thấp - ĐNĐ của người 72 tuổi.
Hình 12: Sự phân bố về tần phổ nhịp an-pha của ĐNĐ theo vùng thuộc các lứa tuổi khác nhau
F - C - trán - trung tâm; C - P - trung tâm - đỉnh; P - O - đỉnh - chẩm; O - T - chẩm - thái dương. S - bên trái, d - bên phải.
Trục tung - tần số dđ/s. I - người trẻ, II - người có tuổi, III - người già, IV - người sống lâu.
Hình 13: Sự phân bố nhịp an-pha trên bán cầu
1. Nhịp chậm.
Các dao động điện thế có chân rộng, đỉnh nhọn với thời khoảng lớn hơn 75 ms, biên độ khác nhau.
2. Phức hợp "nhọn - sóng chậm", thời khoảng được tính từ chân trước của nhọn đến chân sau của sóng chậm.
3. Hưng phấn - nhịp nhanh, tần số thấp
4. Nghỉ ngơi (thức, thoải mái - thư giãn, các cơ thả lỏng) - nhịp an-pha điều hòa, bền vững.
5. Buồn ngủ, giảm biên độ, mất nhịp an-pha, xuất hiện nhịp tê-ta và đen-ta biên độ thấp. Phản ứng của điện não với kích thích từ ngoài còn duy trì.
6. Ngủ - sóng đen-ta được thể hiện rõ hơn, cao hơn.
7. Ngủ say. Những sóng chậm ghi được điều hòa hơn, biên độ cao hơn.
Hình 14: Những phức hợp ĐNĐ bệnh lý (1 và 2) và ĐNĐ của người khỏe mạnh ở các trạng thái khác nhau (3, 4, 5, 6 và 7)
I. Một số biến đổi điện não đồ (ĐNĐ) theo tuổi và trạng thái Người lớn khoẻ mạnh, ở trạng thái nghỉ ngơi nhắm mắt, ghi được ĐNĐ có nhịp an - pha là chủ yếu ở các phần sau - giữa của não bộ. Biên độ trung bình của các sóng khoảng 70mcV. Tần số: 8-13 dao động trong một giây (dđ/s). Đặc biệt sự tăng giảm lần lượt biên độ đã tạo nên nhịp "hình thoi" (hình trám) (hình 1). Khi hoạt động chức năng của não tăng lên (sự chú ý, căng thẳng, tăng cường hoạt động trí tuệ, lo lắng...) biên độ nhịp an - pha bị giảm cho đến mất hoàn toàn. Những kích thích bất ngờ, đột ngột (như loé sáng, âm thanh...) sẽ gây nên mất đồng bộ nhịp an - pha, đó là phản ứng hoạt hoá hoặc dập tắt. Khi những nghiên cứu nói trên được lặp đi lặp lại thì phản ứng đó yếu dần, rồi từ từ tắt hẳn.Nhịp bêta ở người khoẻ mạnh được thể hiện rõ nhất trên các vùng: hồi não trước - trung tâm; biên độ từ 10 - 20mcV, tần số 13 - 15 dđ/s. Trả lời đối với hoạt hoá vận động hoặc kích thích xúc giác cũng cho phản ứng dập tắt như nhịp an - pha.ĐNĐ của người khỏe mạnh, thức thường có cùng một dạng, đối xứng giữa hai bán cầu. Ở các chuyển đạo giống nhau có ĐNĐ giống nhau. Tuy nhiên vẫn có một tỷ lệ không lớn số người với ĐNĐ có sóng chậm biên độ thấp, bị rối loạn, mất cân xứng giữa hai bán cầu. Ở 35 - 40% số người được nghiên cứu có biên độ nhịp an-pha bên bán cầu trái thấp hơn. Trong phần lớn trường hợp ĐNĐ phụ thuộc bởi lứa tuổi (Hình 5), trạng thái chức năng sinh lý của đối tượng nghiên cứu (như ngủ, thức, những xúc cảm khác nhau...). Ở trẻ sơ sinh không có các sóng hoạt động điện có nhịp và điều hòa trên ĐNĐ. Gồm những nhịp chậm lan tỏa thuộc dải tần số đen-ta, thiếu sự khác biệt về vùng và mất cân xứng giữa hai bán cầu. Tuổi tăng lên, các sóng chậm được thay bằng những dao động nhanh hơn: như an-pha và bê-ta. Đến tuổi 16 biên độ và tần số nhịp cơ bản của ĐNĐ đi vào ổn định. Ở người có tuổi ta thấy tăng rõ rệt lượng sóng bê-ta trên ĐNĐ, cũng như các sóng chậm tê-ta và đen-ta. Trong lúc thức, hoạt động, khi căng thẳng đầu óc (gắng sức trí tuệ) biên độ ĐNĐ bị giảm, tần số các dao động tăng lên. Nhưng khi thức, với trạng thái thư giãn, nhịp an-pha chiếm ưu thế (trong dưỡng sinh các nhà thiền càng có hiệu quả thì sóng, nhịp an-pha càng có biên độ cao), phản ứng hoạt hóa đối với kích thích từ bên ngoài được duy trì. Ở trạng thái buồn ngủ nhịp an-pha bị rối loạn, xuất hiện những dao động tê-ta và đen-ta biên độ thấp đơn độc hoặc thành nhóm. Khi ngủ say, nhịp đen-ta và tê-ta trở nên trội, biên độ tương đối cao. Trong các quá trình bệnh lý và trong những trạng thái chức năng của đối tượng, các thông số bình thường của ĐNĐ bị biến đổi và thay vào đó là những hình ảnh ĐNĐ tương ứng nhất định. Những biến đổi này có thể đưa đến hoặc chỉ những đặc điểm về lượng, hoặc thể hiện dưới dạng một ĐNĐ mới không còn tính chất bình thường - đó là dạng những dao động điện thế bệnh lý. Trường hợp thứ nhất - có thể tăng và điều chỉnh tính điều hòa của các nhịp an-pha và bê-ta - tăng biên độ và chỉ số của chúng, ta gọi là sự đồng bộ hóa. Trường hợp khác, có thể quan sát thấy sự thay đổi hoạt động sóng được điều chỉnh về thời gian, chậm hơn bằng những dao động điện thế sinh vật tương đối nhanh và ít điều hòa hơn, biên độ thấp, tần số lớn - đó là sự mất đồng bộ. Trên ĐNĐ xuất hiện nhịp đen-ta (0,5 - 3dđ/s, biên độ 100 - 300 mcV) và tê-ta       (3 - 7 dđ/s, biên độ 100 - 200 mcV) nói lên giảm hoạt động chức năng của não do có những biến đổi về mặt sinh lý. Thuộc các hiện tượng bệnh lý, như động kinh được thể hiện trên ĐNĐ trong dạng các "nhọn", phức hợp "nhọn - sóng chậm", "nhọn sóng" v.v... Khi đọc ĐNĐ phải chú ý đến thông số thời gian. Đó là những đoạn ĐNĐ trên đó ghi được hoạt động điện tương đối đồng nhất, thí dụ: chu kỳ nhịp an-pha được thể hiện trên nền mất đồng bộ các dao động đen-ta, tê-ta, các cơn kịch phát xuất hiện đột ngột và kéo dài không lâu và v.v... Đặc điểm hoạt động điện của vỏ bán cầu đại não phụ thuộc bởi chức năng các cấu trúc dưới vỏ và thân não. Sự suy giảm ảnh hưởng hoạt hóa đi lên của cấu tạo lưới thân não sẽ làm mất đi sự khác biệt về vùng trên ĐNĐ, thiếu vắng sự phong bế nhịp an-pha khi mở mắt và sẽ làm tăng tương đối biên độ của nó. Nhưng khi tăng ảnh hưởng cấu tạo lưới thì biên độ và chỉ số an-pha bị giảm cho đến khi mất hoàn toàn, nhịp bê-ta trở nên trội, chiếm ưu thế trên tất cả các vùng.Để làm rõ hơn ổ hoạt động bệnh lý, đặc biệt khi ghi ở trạng thái yên tĩnh nó thể hiện không được rõ, người ta dùng những nghiệm pháp chức năng khác nhau: tăng thông khí, kích thích bằng ánh sáng nhấp nháy, âm thanh, ấn lần lượt các động mạch lớn v.v... Khi sử dụng nghiệm pháp mở mắt, nhắm mắt có thể xác định được mức độ tiếp xúc của bệnh nhân, mức độ tri giác và tính phản ứng. Nhờ hàng loạt chớp ánh sáng có thời khoảng và tần số xác định đã làm bộc lộ phản ứng đồng hóa nhịp. Thường tiến hành nghiệm pháp tăng thông khí vào cuối nghiên cứu.  Bệnh nhân thường thở sâu, đều (từ 16 - 20 lần/phút). Ta ghi ĐNĐ một phút trước khi làm nghiệm pháp tăng thông khí, cho bệnh nhân thở 3 phút sau đó ghi ĐNĐ. 
Hình 8. Các dạng nhịp an-pha điều hòa trên các vùng thuộc não bộ

Hình 9: ĐNĐ trẻ em 7 - 8 tuổi A. ĐNĐ trẻ em 7 tuổi với nhịp an-pha ổn định B. Những sóng chậm kịch phát trên ĐNĐ trẻ em 8 tuổi 

Hình 10: Hoạt động điện của não bộ ở trẻ em 14 tuổi A. Đường ghi nền B. Phản ứng hoạt hóa khi kích thích âm 

Hình 11. ĐNĐ của người già A. Nhịp an-pha quá đồng bộ trên ĐNĐ của người 63 tuổi B. Hoạt động điện mất đồng bộ, biên độ thấp - ĐNĐ của người 72 tuổi.


Hình 12: Sự phân bố về tần phổ nhịp an-pha của ĐNĐ theo vùng thuộc các lứa tuổi khác nhau F - C - trán - trung tâm; C - P - trung tâm - đỉnh; P - O - đỉnh - chẩm; O - T - chẩm - thái dương. S - bên trái, d - bên phải. Trục tung - tần số dđ/s. I - người trẻ, II - người có tuổi, III - người già, IV - người sống lâu.  
Hình 13: Sự phân bố nhịp an-pha trên bán cầu 1. Nhịp chậm. Các dao động điện thế có chân rộng, đỉnh nhọn với thời khoảng lớn hơn 75 ms, biên độ khác nhau.
2. Phức hợp "nhọn - sóng chậm", thời khoảng được tính từ chân trước của nhọn đến chân sau của sóng chậm. 

3. Hưng phấn - nhịp nhanh, tần số thấp

4. Nghỉ ngơi (thức, thoải mái - thư giãn, các cơ thả lỏng) - nhịp an-pha điều hòa, bền vững.5. Buồn ngủ, giảm biên độ, mất nhịp an-pha, xuất hiện nhịp tê-ta và đen-ta biên độ thấp. Phản ứng của điện não với kích thích từ ngoài còn duy trì. 6. Ngủ - sóng đen-ta được thể hiện rõ hơn, cao hơn. 7. Ngủ say. Những sóng chậm ghi được điều hòa hơn, biên độ cao hơn. Hình 14: Những phức hợp ĐNĐ bệnh lý (1 và 2) và ĐNĐ của người khỏe mạnh ở các trạng thái khác nhau (3, 4, 5, 6 và 7)

Gallery Images

Advertisement

Visitors Counter

00895589
Today
Yesterday
This Week
Last Week
This Month
Last Month
All days
916
2126
6655
247939
26232
43547
895589

Your IP: 54.204.217.28
Server Time: 2014-08-22 17:53:42